James Madison
James Madison | |
|---|---|
Chân dung Madison vào năm 1816 | |
Tổng thống thứ 4 của Hoa Kỳ | |
| Nhiệm kỳ 4 tháng 3 năm 1809 – 4 tháng 3 năm 1817 8 năm, 0 ngày | |
| Phó Tổng thống |
|
| Tiền nhiệm | Thomas Jefferson |
| Kế nhiệm | James Monroe |
| Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ | |
| Nhiệm kỳ 2 tháng 5 năm 1801 – 3 tháng 3 năm 1809[2] | |
| Tổng thống | Thomas Jefferson |
| Tiền nhiệm | John Marshall |
| Kế nhiệm | Robert Smith |
| Thành viên Hạ viện Hoa Kỳ đại diện cho Virginia | |
| Nhiệm kỳ 4 tháng 3 năm 1789 – 4 tháng 3 năm 1797[3] | |
| Tiền nhiệm | Khu vực bầu cử được thành lập |
| Kế nhiệm | John Dawson |
| Khu vực bầu cử |
|
| Đại biểu của Virginia tại Quốc hội Hợp bang | |
| Nhiệm kỳ 6 tháng 11 năm 1786 – 30 tháng 10 năm 1787[4] | |
| Nhiệm kỳ 1 tháng 3 năm 1781 – 1 tháng 11 năm 1783 | |
| Thông tin cá nhân | |
| Sinh | James Madison Jr. 16 tháng 3, 1751 Port Conway, Virginia, Châu Mỹ thuộc Anh |
| Mất | 28 tháng 6, 1836 (85 tuổi) Montpelier, Virginia, Hoa Kỳ |
| Đảng chính trị | Dân chủ Cộng hòa |
| Chiều cao | 5 ft 4 in (163 cm)[5] |
| Phối ngẫu | |
| Mẹ | Eleanor Madison |
| Cha | James Madison Sr. |
| Giáo dục | Cao đẳng New Jersey (BA) |
| Chữ ký | |
| Phục vụ trong quân đội | |
| Thuộc | Hoa Kỳ |
| Phục vụ | Dân quân Virginia |
| Năm tại ngũ | 1775 - 1776 1814 |
| Cấp bậc | Đại tá Tổng tư lệnh |
| Đơn vị | Dân quân Quận Orange |
| Tham chiến | Chiến tranh Cách mạng Mỹ |
James Madison (16 tháng 3 năm 1751[b] – 28 tháng 6 năm 1836) là một chính khách, nhà ngoại giao và nhà lập quốc người Mỹ, từng giữ chức tổng thống Hoa Kỳ thứ tư từ năm 1809 đến năm 1817. Madison được ca ngợi rộng rãi với danh xưng "Cha đẻ của Hiến pháp" bởi vì vai trò then chốt của ông trong việc soạn thảo và thúc đẩy Hiến pháp Hoa Kỳ cũng như Tuyên ngôn Nhân quyền.
Madison sinh thành trong một gia đình địa chủ sở hữu nô lệ nổi tiếng ở Virginia. Ông từng là thành viên của Hạ viện Virginia và Quốc hội Lục địa trong và sau Chiến tranh Cách mạng Mỹ. Bất mãn với chính phủ quốc gia yếu kém được thành lập theo Các điều khoản Hợp bang, ông đã giúp tổ chức Hội nghị Lập hiến nhằm soạn thảo một hiến pháp mới với mục đích củng cố chính phủ cộng hòa trước sự đe dọa của hội đồng dân chủ. Kế hoạch Virginia của Madison là nền tảng cho các cuộc tranh luận tại hội nghị và ông là một trong những người có tiếng nói quan trọng. Ông trở thành một trong những lãnh tụ trong phong trào phê chuẩn Hiến pháp và cùng với Alexander Hamilton và John Jay viết Luận cương về thể chế Liên bang, một loạt các bài bình luận ủng hộ việc phê chuẩn, vẫn còn được xem là những tác phẩm quan trọng trong lịch sử khoa học chính trị Hoa Kỳ. Madison nổi lên như một nhà lãnh đạo quan trọng tại Hạ viện và là cố vấn thân cận của Tổng thống George Washington.
Trong những năm đầu thập niên 1790, Madison phản đối chương trình kinh tế và sự tập trung quyền lực đi kèm mà Bộ trưởng Ngân khố Hamilton ủng hộ. Cùng với Thomas Jefferson, ông đứng ra thành lập Đảng Dân chủ Cộng hòa để đối lập với Đảng Liên bang của Hamilton. Sau khi Jefferson được bầu làm tổng thống vào năm 1800, Madison giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao từ năm 1801 đến năm 1809 và ủng hộ Jefferson trong vụ Marbury kiện Madison. Trong thời gian Madison làm Ngoại trưởng, Jefferson đã thực hiện Thương vụ mua Louisiana, và sau này, trên cương vị Tổng thống, Madison giám sát các tranh chấp liên quan ở Lãnh thổ Tây Bắc.
Madison trúng cử tổng thống vào năm 1808. Xuất phát từ mong muốn chiếm lấy những vùng đất do Anh, Tây Ban Nha và người Mỹ bản địa kiểm soát, cộng với việc các biện pháp phản đối ngoại giao cũng như cấm vận thương mại nhằm ngăn chặn Anh tịch thu hàng hóa vận chuyển từ Mỹ đều đã thất bại, Madison quyết định lãnh đạo Hoa Kỳ bước vào Chiến tranh năm 1812. Mặc dù chiến tranh kết thúc bất phân thắng bại, nhiều người Mỹ vẫn coi kết quả của cuộc chiến đó như là "cuộc chiến tranh giành độc lập lần thứ hai" thành công chống lại Anh. Madison được tái đắc cử vào năm 1812, mặc dù với khoảng cách chênh lệch ít hơn. Ông chủ trì việc thành lập Ngân hàng Quốc gia Hoa Kỳ thứ hai và thông qua Đạo luật Thuế quan Bảo hộ năm 1816. Bằng cách ký kết các hiệp ước hoặc thông qua chiến tranh, những bộ lạc người Mỹ bản địa đã nhượng lại 26.000.000 mẫu Anh (11.000.000 ha) đất cho Hoa Kỳ dưới thời tổng thống Madison.
Sau khi kết thúc nhiệm kỳ tổng thống năm 1817, Madison lui về đồn điền Montpelier của mình và qua đời tại đây vào năm 1836. Trong suốt cuộc đời, Madison là một chủ nô. Năm 1783, để ngăn chặn cuộc nổi dậy của nô lệ tại Montpelier, Madison đã giải phóng một trong những người nô lệ của mình. Tuy nhiên, ông đã không giải phóng thêm bất kỳ nô lệ nào trong di chúc của mình. Trong mắt các nhà sử học, Madison được coi là một trong những nhà lập quốc Hoa Kỳ quan trọng nhất. Những nhà sử học hàng đầu thường đánh giá ông là một vị tổng thống trên mức trung bình, mặc dù họ chỉ trích ông về việc ủng hộ chế độ nô lệ và vai trò lãnh đạo của ông trong Chiến tranh năm 1812. Tên tuổi của Madison được tưởng nhớ ở nhiều địa danh trên khắp đất nước, cả công khai và riêng tư, với những ví dụ nổi bật bao gồm Madison Square Garden, Đại học James Madison, Tòa nhà Tưởng niệm James Madison và USS James Madison.
Thiếu thời và giáo dục
[sửa | sửa mã nguồn]James Madison Jr. sinh ngày 16 tháng 3 năm 1751 (lịch cũ: 5 tháng 3 năm 1750) tại trang trại Belle Grove gần Port Conway ở Thuộc địa Virginia, là con trai của James Madison Sr. và Eleanor Madison. Gia đình ông đã sống ở Virginia từ giữa thế kỷ 17.[6] Ông ngoại của Madison là Francis Conway, một địa chủ và thương nhân thuốc lá nổi tiếng.[7] Cha ông là một chủ đồn điền trồng thuốc lá, lớn lên tại nông trang có tên là Mount Pleasant và sau này được thừa kế nó. Với ước tính khoảng 100 nô lệ[6] và một đồn điền rộng 5.000 mẫu Anh (2.000 ha), Madison Sr. là một trong những địa chủ giàu có bậc nhất vùng Piedmont của Virginia.[8]
Vào đầu thập niên 1760, gia đình Madison chuyển đến sinh sống trong một ngôi nhà mới được xây dựng mà họ đặt tên là Montpelier.[9] Madison là con cả trong số 12 người con, gồm 7 em trai và 4 em gái, mặc dù vậy chỉ có 6 người sống sót đến tuổi trưởng thành.[9] Trong số 3 người em trai (Francis, Ambrose và William) và 3 người em gái (Nelly, Sarah và Frances) còn sống, Ambrose sau này đã giúp quản lý Montpelier cho cả cha và anh trai cho đến khi qua đời vào năm 1793.[10] Tổng thống Zachary Taylor là hậu duệ của Trưởng lão William Brewster, một nhà lãnh đạo người hành hương ở Thuộc địa Plymouth, một người nhập cư trên con tàu Mayflower và là người ký kết Hiệp ước Mayflower; cùng với Isaac Allerton Jr., một thương gia thuộc địa, đại tá quân đội, con trai của Isaac Allerton và Fear Brewster (cả hai cũng là người hành hương trên tàu Mayflower). Người anh họ thứ hai của Taylor thông qua dòng dõi này chính là Madison.[11]

Ghi chú
[sửa | sửa mã nguồn]- 1 2 Phó Tổng thống Clinton và Phó Tổng thống Gerry đều qua đời khi đang tại nhiệm. Không có ai thay thế họ trong phần còn lại của nhiệm kỳ, bởi vì Hiến pháp không có điều khoản nào quy định về việc bổ nhiệm một tân Phó Tổng thống trong trường hợp chức vụ này bị bỏ trống, cho đến khi Tu chính án thứ 25 được thông qua vào năm 1967.[1]
- ↑ Lịch cũ: 5 tháng 3 năm 1750.
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ Billias 1976, tr. 329.
- ↑ Rutland 1990, tr. 19.
- ↑ Labunski 2006, tr. 148–150.
- ↑ Wills 2002, tr. 12–13.
- ↑ Kane 1993, tr. 344.
- 1 2 Ketcham 2002, tr. 57.
- ↑ Ketcham 1990, tr. 5.
- ↑ Montpellier Foundation.
- 1 2 Montpellier, Life of James Madison.
- ↑ Ketcham 2003, tr. 370-371.
- ↑ Hamilton 1941, tr. 22, 259.