Bước tới nội dung

Máy chơi trò chơi điện tử video

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Video game console)
Một bộ sưu tập các máy chơi trò chơi điện tử cổ điển khác nhau tại một chương trình truyền hình

Máy chơi trò chơi điện tử video là thiết bị điện tử có đầu vào/đầu ra dùng để xuất ra tín hiệu video hoặc hình ảnh trực quan để hiển thị trò chơi điện tử mà một hoặc nhiều người có thể chơi thông qua một số loại tay cầm điều khiển trò chơi. Đây có thể là máy chơi trò chơi điện tử tại gia thường được đặt ở vị trí cố định được kết nối với TV hoặc thiết bị hiển thị khác và được điều khiển bằng bộ điều khiển trò chơi riêng biệt hoặc máy chơi trò chơi điện tử cầm tay bao gồm bộ hiển thị và chức năng bộ điều khiển của riêng chúng được tích hợp sẵn trong thiết bị và có thể phát ở mọi nơi. Máy chơi trò chơi điện tử lai kết hợp các yếu tố của cả máy gia đình và máy cầm tay.

Máy chơi trò chơi điện tử là một dạng máy tính tại gia chuyên dụng hướng đến chơi trò chơi điện tử, được thiết kế với khả năng chi trả và khả năng tiếp cận cho công chúng nói chung, nhưng thiếu khả năng tính toán thô và khả năng tùy chỉnh. Sự đơn giản hoa này được thông qua một phần nhờ vào việc sử dụng hộp băng trò chơi hoặc các cách phân phối đơn giản khác, giúp giảm bớt thời gian khởi chạy trò chơi. Tuy nhiên, điều này dẫn đến các định dạng độc quyền, tạo ra sự cạnh tranh để giành thị phần.[1] Nhiều hệ máy gần đây đã cho thấy sự hợp nhất hơn nữa với máy tính gia đình, giúp các nhà phát triển dễ dàng phát hành trò chơi trên nhiều nền tảng. Hơn nữa, các hệ máy hiện đại có thể thay thế cho máy phát đa phương tiện với khả năng phát lại phim và nhạc từ phương tiện quang học hoặc các dịch vụ phương tiện truyền trực tuyến.

Máy chơi trò chơi điện tử thường bán theo chu kỳ 5-7 năm được gọi là một thế hệ, với các hệ máy sản xuất ra với các khả năng kỹ thuật tương tự hoặc được sản xuất trong cùng một khoảng thời gian sẽ vào chung một nhóm thế hệ. Ngành công nghiệp này đã phát triển một mô hình dao cạo để bán máy chơi trò chơi điện tử với lợi nhuận thấp hoặc thua lỗ trong khi vẫn tạo ra doanh thu từ phí bản quyền cho mỗi trò chơi được bán ra, với kế hoạch thu hút người tiêu dùng vào máy chơi trò chơi điện tử thế hệ tiếp theo. Trong khi nhiều nhà sản xuất từng đến và đi trong lịch sử, luôn có hai hoặc ba nhà lãnh đạo thống trị thị trường, với thị phần hiện tại dẫn đầu là Sony (với thương hiệu PlayStation), Microsoft (với thương hiệu Xbox), và Nintendo (hiện đang sản xuất các máy Switch 2 và Switch). Các nhà phát triển máy chới trò chơi điện tử trước đây bao gồm Sega, Atari, Coleco, Mattel, NEC, SNK, Magnavox, Philips và Panasonic.

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Máy chơi trò chơi điện tử đầu tiên xuất hiện vào đầu những năm 1970. Ralph H. Baer đã nghĩ ra khái niệm chơi các trò chơi đơn giản tại chỗ trên màn hình tivi vào năm 1966, sau này trở thành nền tảng của Magnavox Odyssey vào năm 1972. Lấy cảm hứng từ trò chơi bóng bàn trên máy Odyssey, Nolan Bushnell, Ted Dabney, và Allan Alcorn tại Atari, Inc đã phát triển ra trò chơi arcade đầu tiên đạt được nhiều thành công, Pong, và tìm cách phát triển trò chơi đó thành phiên bản dành cho gia đình, phát hành vào năm 1975. Các máy chơi trò chơi điện tử tại đầu tiên chỉ có thể chơi một nhóm trò chơi tích hợp sẵn trong phần cứng. Hệ máy lập trình sử dụng hộp băng ROM có thể hoán đổi do Fairchild Channel F giới thiệu vào năm 1976 mặc dù đã có mặt trên Atari 2600, phát hành trước đó vào năm 1977.[2]

Máy chơi trò chơi điện tử cầm tay nổi lên nhờ những cải tiến về công nghệ trong trò chơi điện tử khi chúng chuyển từ cơ học sang logic điện tử / kỹ thuật số và chuyển từ màn hình diode phát sáng (LED) sang màn hình tinh thể lỏng (LCD) giống với màn hình video hơn, với Microvision vào năm 1979 và Game & Watch năm 1980 là những ví dụ ban đầu và Game Boy hiện thực hóa hoàn toàn vào năm 1989.[3]

Kể từ những năm 1970, cả máy chơi trò chơi điện tử gia đình và cầm tay đều trở nên tiên tiến hơn sau những thay đổi toàn cầu về công nghệ, bao gồm cải tiến sản xuất chip điện tử và máy tính để tăng sức mạnh tính toán với chi phí và kích thước thấp hơn, sự ra đời của đồ họa 3D và bộ xử lý đồ họa dựa trên phần cứng cho ra kết xuất thời gian thực, truyền thông kỹ thuật số như Internet, mạng không dây và Bluetooth, và các định dạng phương tiện truyền thông lớn hơn và dày đặc hơn cũng như phân phối kỹ thuật số.[2]

Theo cùng một kiểu tiến triển của định luật Moore, các máy chơi trò chơi điện tử tại gia được nhóm thành các thế hệ, mỗi thế hệ kéo dài khoảng năm năm, với các máy trong mỗi loại có các thông số kỹ thuật và tính năng tương tự như kích thước của bộ xử lý. Mặc dù không có định nghĩa tiêu chuẩn hoặc phân tích theo thế hệ,[4] nhưng định nghĩa về các thế hệ này được Wikipedia sử dụng bao gồm cả hệ máy đại diện được hiển thị bên dưới.

Tổng quan theo dòng thời gian

[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng quan về các thế hệ máy chơi trò chơi điện tử, bao gồm cả các thế hệ chéo. Các hệ máy chính của mỗi thế hệ được hiện thị ở đây.

Hình dạng

[sửa | sửa mã nguồn]
Ví dụ về máy chơi trò chơi điện tử tại nhà, Microsoft Xbox 360.
Ví dụ về máy chơi trò chơi điện tử cầm tay, Sony PlayStation Portable (PSP).
Nintendo Switch là một máy chơi trò chơi điện tử lai có khả năng tháo rời Joy-Cons (bên trái) và cắm vào đế sạc (bên phải) để sử dụng tại nhà.

Máy chơi trò chơi điện tử video tại nhà

[sửa | sửa mã nguồn]

Máy chơi trò chơi điện tử tại gia được thiết kế để kết nối với tivi hoặc màn hình khác, nguồn điện được cung cấp qua ổ cắm. Điều này yêu cầu thiết bị phải được sử dụng ở một vị trí cố định, thường là ở nhà trong phòng khách. Bộ điều khiển trò chơi riêng biệt, được kết nối thông qua kết nối có dây hoặc không dây, được sử dụng để điều khiển trò chơi. Các ví dụ ban đầu bao gồm Atari 2600, Nintendo Entertainment System, và Sega Genesis; các ví dụ mới hơn bao gồm Wii U, PlayStation 5, và Xbox Series X.[2]

Microconsole

[sửa | sửa mã nguồn]

Microconsole là một loại máy chơi trò chơi video tại nhà thường được trang bị phần cứng máy tính giá rẻ, khiến giá thành của máy thấp hơn so với các máy khác trên thị trường. Phần lớn các máy Microconsole, ngoại trừ một vài trường hợp như PlayStation TV và OnLive Game System, là các thiết bị phát đa phương tiện kỹ thuật số dựa trên Android được bán kèm với tay cầm chơi trò chơi và được tiếp thị như các thiết bị chơi trò chơi điện tử. Những máy Microconsole này có thể được kết nối với tivi để chơi các trò chơi điện tử được tải xuống từ các cửa hàng ứng dụng như Google Play.[5]

Máy chơi trò chơi điện tử cầm tay

[sửa | sửa mã nguồn]

Máy chơi trò chơi cầm tay là những thiết bị thường có màn hình và tay cầm chơi trò chơi tích hợp trong vỏ máy, và chứa pin sạc hoặc ngăn chứa pin. Điều này cho phép người dùng mang theo và chơi ở bất cứ đâu, trái ngược với máy chơi trò chơi tại nhà. Ví dụ bao gồm Game Boy, PlayStation Portable và Nintendo 3DS.[3]

Máy chơi trò chơi điện tử lai

[sửa | sửa mã nguồn]

Máy chơi trò chơi điện tử lai là thiết bị kết hợp chức năng của máy chơi trò chơi cầm tay và máy chơi trò chơi tại nhà. Ngoài chức năng cầm tay, chúng thường có thêm kết nối có dây hoặc đế cắm để kết nối máy chơi trò chơi với màn hình tivi. Máy có thể được sử dụng riêng lẻ như bộ điều khiển và chơi trò chơi trong khi đang sạc pin bằng dây. Các thiết bị cầm tay bao gồm Sega Nomad, PlayStation Portable, và Shield Portable và Shield Tablet của Nvidia, hoặc các máy chơi trò chơi tại nhà như Wii U có các tính năng lai.[6] Với Nintendo Switch, một hệ máy chơi trò chơi điện tử có tay cầm rời gọi là Joy-Con Set, thuật ngữ "lai" trở nên phổ biến và được một số người coi là hệ máy chơi trò chơi điện tử lai thực sự đầu tiên.[7][8]

Chức năng

[sửa | sửa mã nguồn]

Hầu hết các máy chơi trò chơi đều được coi là máy chơi trò chơi điện tử có thể lập trình và cho phép người chơi chuyển đổi giữa các trò chơi khác nhau. Theo truyền thống, việc này được thực hiện bằng cách chuyển đổi băng trò chơi hoặc thẻ trò chơi hoặc bằng cách sử dụng đĩa quang. Hiện nay, việc tải xuống trò chơi thông qua phân phối kỹ thuật số và lưu trữ chúng trên các thiết bị lưu trữ kỹ thuật số bên trong hoặc bên ngoài đã trở nên phổ biến.[3]

Máy chơi trò chơi điện tử chuyên dụng

[sửa | sửa mã nguồn]
Image of the Sega Genesis Mini
Sega Genesis (Mega Drive) Mini

Một số máy chơi trò chơi được coi là máy chơi trò chơi chuyên dụng, trong đó trò chơi có sẵn cho máy chơi trò chơi điện tử được "cài đặt sẵn" vào phần cứng, bằng cách lập trình thông qua mạch điện hoặc được lưu trữ trong bộ nhớ flash chỉ đọc của máy. Do đó, người dùng không thể thêm hoặc thay đổi thư viện trò chơi của máy chơi trò chơi trực tiếp. Người dùng thường có thể chuyển đổi giữa các trò chơi trên máy chơi trò chơi chuyên dụng bằng cách sử dụng các công tắc phần cứng trên máy hoặc thông qua menu trong trò chơi. Máy chơi trò chơi chuyên dụng rất phổ biến trong thế hệ máy chơi trò chơi gia đình đầu tiên, chẳng hạn như Magnavox Odyssey và phiên bản Pong dành cho gia đình, và gần đây hơn đã được sử dụng cho các máy chơi trò chơi kiểu cổ điển như NES Classic Edition và Sega Genesis Mini.[2]

Máy chơi trò chơi chuyên dụng rất phổ biến trong