Kyle Busch

Kyle Thomas Busch (sinh 2 tháng 5 năm 1985 – 21 tháng 5 năm 2026)[1][2], biệt danh Rowdy, là một tay đua đua xe chuyên nghiệp người Mỹ. Anh thi đấu toàn thời gian tại NASCAR Cup Series, lái chiếc Chevrolet Camaro ZL1 số 8 cho Richard Childress Racing và bán thời gian tại NASCAR Craftsman Truck Series, Lái chiếc xe số 7 Chevrolet Silverado RST cho Spire Motorsports.
Là một tay đua vô cùng tài năng, Busch là nhà vô địch Giải NASCAR Nationwide Series năm 2009 và hai lần vô địch Giải NASCAR Cup Series, giành được danh hiệu trong Giải NASCAR Sprint Cup Series 2015 và Giải Monster Energy NASCAR Cup Series 2019. Trước khi qua đời, anh đứng thứ chín trong danh sách những tay đua có nhiều chiến thắng nhất mọi thời đại tại giải NASCAR Cup Series và đứng đầu về tổng số chiến thắng trong ba hạng mục chính của NASCAR. Anh được đánh giá rộng rãi là một trong những tay đua vĩ đại nhất thế hệ của mình và trong lịch sử NASCAR, nổi tiếng với sự thống trị của mình trên cả ba giải đấu lớn của môn thể thao này.[3] Ngoài ra, Busch từng giữ chức vô địch WWE 24/7 trong một thời gian ngắn.[4] Anh là em trai của Kurt Busch, nhà vô địch NASCAR Nextel Cup Series năm 2004.
Ngày 21 tháng 5 năm 2026, anh qua đời vì các biến chứng từ viêm phổi, hưởng dương 41 tuổi.[5][6]

Thời thơ ấu và sự nghiệp
[sửa | sửa mã nguồn]Busch sinh ngày 2 tháng 5 năm 1985 ở Las Vegas, Nevada,[7][8] người con thứ hai của Tom và Gaye Busch, vốn đến từ Schaumburg, Illinois.[9] Tom, khi đó đang làm thợ cơ khí tại một đại lý của Ford ở Las Vegas, đã được một đồng nghiệp giới thiệu về môn đua xe tại một trường đua ngắn ở địa phương. Sau đó, chính anh cũng trở thành tay đua xe stock car và giành được nhiều chức vô địch trong khu vực.[10] Busch cũng đi theo con đường tương tự; anh bắt đầu làm quen với đua xe từ năm sáu tuổi, khi lái một chiếc xe go-kart tự chế chạy quanh khu vực đường cụt trong khu dân cư của gia đình.[11] Vì không với tới chân ga, Busch để cha mình điều khiển bàn đạp ga trong khi bản thân tập trung vào việc cầm lái và học các kỹ năng lái xe cơ bản.[12] Anh bắt đầu làm việc tại gara của gia đình cùng cha và người anh trai Kurt Busch; đến năm 10 tuổi, anh đã đảm nhận vai trò trưởng đội kỹ thuật cho đội đua xe "dwarf car" của Kurt.[12] Busch bắt đầu sự nghiệp vào năm 1998 khi mới 13 tuổi; từ năm 1999 đến 2001, anh đã giành chiến thắng hơn 65 cuộc đua thuộc thể loại "Legends car racing" và đoạt hai chức vô địch tại trường đua Las Vegas Motor Speedway Bullring.[13] Năm 2001, anh chuyển sang thi đấu ở thể thức đua xe "late model" và giành được 10 chiến thắng tại trường đua Bullring trong mùa giải đó.[12]
Ở tuổi 16, Busch bắt đầu thi đấu tại giải NASCAR Craftsman Truck Series, cầm lái chiếc xe Ford số 99 cho đội Roush Racing; anh thay thế Nathan Haseleu (người vừa bị sa thải) vào giữa mùa giải 2001. Anh có màn ra mắt tại trường đua Indianapolis Raceway Park,[14] Hoàn thành chặng đua đầu tiên của mình với vị trí thứ chín đầy ấn tượng. Trong chặng đua thứ hai tại Chicago Motor Speedway,[15] anh dẫn đầu cho đến khi chiếc xe tải của mình hết nhiên liệu khi còn mười hai vòng đua nữa.[16] Busch đạt thành tích nhanh nhất trong các buổi chạy thử cho giải Auto Club 200 năm 2001 tại trường đua California Speedway ở Fontana, California; tuy nhiên, do chưa đủ 18 tuổi, anh bị xác định là không đủ điều kiện thi đấu theo quy định của Thỏa thuận Dàn xếp Tổng thể về Thuốc lá năm 1998.[17][18] Tim Woods III đã thay thế Busch lái chiếc Ford số 99 và về đích ở vị trí thứ 25.[17] Sáu tuần sau sự cố tại Fontana, NASCAR đã áp dụng quy định về độ tuổi tối thiểu là 18, bắt đầu từ năm 2002, nhằm ngăn ngừa các sự cố tương tự.[19]
Busch chuyển từ NASCAR sang giải American Speed Association National Tour, nơi anh xếp thứ 8 trên bảng xếp hạng chung cuộc.[20] Anh đã tham gia sáu cuộc đua thuộc giải Truck Series vào năm 2001, với hai lần về đích ở vị trí thứ chín tại IRP và Las Vegas Motor Speedway.[21]
Năm 2002, Busch tốt nghiệp sớm với thành tích xuất sắc tại Trường Trung học Durango ở Spring Valley, Nevada, để tập trung vào sự nghiệp đua xe của mình.[13] Cũng trong năm đó, anh có màn ra mắt tại giải ARCA RE/MAX Series trên trường đua Lowe's Motor Speedway, về đích ở vị trí thứ 12 khi cầm lái chiếc Chevrolet số 22 cho đội WP Motorsports.[22]
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ "NASCAR icon Kyle Busch dies at the age of 41". ESPN. ngày 21 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2026.
- ↑ What to know about Kyle Busch's death, NASCAR driver's recent health issues
- ↑ Weaver, Matt (ngày 3 tháng 5 năm 2021). "The Persevering Greatness of Kyle Busch". Autoweek (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2023.
- ↑ "NASCAR's Kyle Busch wins WWE 24/7 championship title from R-Truth on Raw". ngày 3 tháng 12 năm 2019.
- ↑ Gluck, Jeff (ngày 23 tháng 5 năm 2026). "Kyle Busch died after complications from sepsis, severe pneumonia, family says". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2026.
- ↑ Bianchi, Jordan; Andrejev, Alex (ngày 27 tháng 5 năm 2026). "Kyle Busch had pneumonia for 'days to weeks' before he died, death certificate says". The New York Times. ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2026.
- ↑ "Kyle Busch". Official Site Of NASCAR. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2026.
- ↑ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên "NASCAR statement" - ↑ Tripathi, Gunaditya (ngày 21 tháng 1 năm 2026). "Who Are Kurt Busch's Parents? Meet Tom Busch and Gaye Busch". EssentiallySports. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2026.
- ↑ Hembree, Mike. "Kurt, Kyle Busch trace championship path back to father". USA TODAY. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2026.
- ↑ McGee, Ryan (ngày 29 tháng 11 năm 2011). "Busch brothers still stirring the pot". ESPN The Magazine. ESPN. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2013.
- 1 2 3 "Kyle Busch Bio Continued". Joe Gibbs Racing. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2013.
- 1 2 "Hometown racer wins big". Las Vegas Sun. Las Vegas, NV. ngày 3 tháng 3 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2013.
- ↑ Kallman, Dave (ngày 3 tháng 8 năm 2001). "Busch-whacked". Milwaukee Journal Sentinel. Milwaukee, WI. tr. 6C. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2013.[liên kết hỏng vĩnh viễn]
- ↑ Jenkins, Chris (ngày 15 tháng 8 năm 2001). "Busch brothers off to fast start". USA Today. McLean, VA. tr. C6. ProQuest 408825280. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2013.
- ↑ Goddard, Joe (ngày 19 tháng 8 năm 2001). "Busch, 16, nearly pulls off a win". Chicago Sun-Times. Chicago, IL. tr. 122. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2013.
- 1 2 Glick, Shav (ngày 3 tháng 11 năm 2001). "Busch's Chances Go Up in Smoke". Los Angeles Times. Los Angeles, CA. tr. D7. ProQuest 421842387. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2013.
- ↑ Hilderbrand, Brian (ngày 6 tháng 9 năm 2005). "This time around, Kyle Busch kicks ash in Fontana". Las Vegas Sun. Las Vegas, NV. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2013.
- ↑ Fryer, Jenna (ngày 1 tháng 5 năm 2003). "Younger Busch ready for return". The Free Lance–Star. Fredericksburg, VA. tr. B8. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2013.
- ↑ Smith, Steven Cole (tháng 12 năm 2002). "And Baby Makes More". Car and Driver. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2013.
- ↑ "Kyle Busch 2001 NASCAR Craftsman Truck Series Results". Racing-Reference. USA Today Sports Media Group. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2013.
- ↑ "Kyle Busch – 2002 ARCA Re/Max Series Results". Racing-Reference. USA Today Sports Media Group. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2013.